Bệnh nhân được đặt ở tư thế nằm sấp. Rạch da đường giữa từ xương cụt qua

trung tâm cơ thắt ngoài tới tầng sinh môn.Trong hầu hết các thể điển hình, sẽ thấy

được âm đạo và niệu đạo khi mở trực tràng. Tách trực tràng ra khỏi phẫu thuật âm đạo và tách

trực tràng đủ dài để đưa xuống tầng sinh môn. Phẫu thuật thẩm mĩ tách âm đạo ra khỏi niệu đạo phải hết

sức cẩn thận bởi vì mô này ít đàn hồi và âm đạo bao rất sát niệu đạo. Ngoài ra,vùng

này tiếp cận với cổ bàng quang và tam giác niệu rất dễ làm tổn thương niệu quản.

Phẫu tích càng ít mô niệu càng tốt để tránh tiểu không kiểm soát. Biến chứng đáng sợ

là dò niệu đạo –âm đạo. Pena gặp trong 6/54 trường hợp. Phẫu tích càng dài, âm đạo

càng thiếu máu nuôi cho nên phẫu thuật viên phải cân nhắc kỹ. Nếu chiều dài kênh

chung lớn hơn 3 cm, âm đạo thường được tái tạo bằng mảnh ghép da, âm môi; vòm

âm đạo, hoặc đại tràng. Nếu chiều dài kênh chung nhỏ hơn 3 cm kèm âm đạo có kích

cỡ bình thường cho phép phẫu thuật viên giải phóng và tạo hình âm đạo. Pena khâu lỗ

âm đạo bằng chỉ silk 6.0

Tạo hình niệu đạo được thực hiện sau khi giải phóng đủ chiều dài âm đạo.

Sử dụng kênh chung cuốn ống quanh một thông Foley đã được đặt vào trong bàng

quang và khâu bằng chỉ tan chậm 5.0. Tạo hình 2 lớp tránh dò. Sử dụngkích thích

điện tìm cơ vân tự ý hai bên kênh chung, cơ này có vai trò quan trọng kiểm soát

nước tiểu. Hầu hết bệnh nhân đều tiểu bình thường sau phẫu thuật nếu có xương

cụt bình thường. Cơ thắt niệu đạo không phải là một vòng cơ nhỏ tại chỗ mà là

một cơ liên tục bắt đầu từ levator tới da dọc theo hai bên kênh chung (niệu đạo tân

tạo).

Tạo hình âm đạo đươc thực hiện sau tạo hình niệu đạo. Âm đạo được đưa

xuống đính vào da tầng sinh môn bằng mũi rời và bằng chỉ tan chậm 5.0. Kích thích

điện tìm giới hạn trước và sau của cơ thắt ngoài, tức là giới hạn của lỗ hậu môn mới.

Đánh dấu giới hạn này bằng chỉ silk 5.0. Giới hạn này có thể dễ dàng nhận ra ở những

bệnh nhân có cơ bình thường bởi vì nó tương ứng các sợi vertical chéo qua (phức hợp

cơ) với những sợi parasagittal. Tái tạo tầng sinh môn được thực hiện sau khi xác định

các giới hạn này bằng cách nối hai cạnh trước của phức hợp cơ với chỉ tan chậm.

Thành trước âm đạo bị tổn thương trong khi phẫu tích có nguy cơ dẫn đến dò niệu

đạo-âm đạo. Trong trường hợp này nên xoay âm đạo 90o, dùng thành sau âm đạo

nguyên vẹn để che phủ đường khâu niệu đạo.Trường hợp âm đạo không đủ chiều dài,

có thể: 1. Tạo vạt da hoặc vạt âm môi; 2. Thay thế âm đạo bằng ruột, trong trường

hợp này phải kết hợp ngã bụng; 3. Tạo vạt mái vòm âm đạo trong trường hợp có ứ

dịch tử cung (hydrocolpos). Tuy nhiên dù tái tạo âm đạo bằng bất kỳ kỹ thuật nào,

biến chứng hẹp âm đạo hay teo âm đạo thứ phát do thiếu máu nuôi cũng đều có khả

năng xảy ra (theo Pena biến chứng hẹp 10,63% và teo thứ phát 2,12%). Trong 4

trường hợp của chúng tôi chưa ghi nhận biến chứng kể trên. Mặc dù vậy đa số các tác

giả đều cho rằng để đánh giá thật sự phải chờ đợi bệnh nhân đến tuổi dậy thì, sự bài

tiết tốt hormone có thể sẽ là yếu tố thuận lợi cho việc phát triển âm đạo.

Trực tràng phải được đưa qua phần trước của levator và nên nằm trong giới

hạn phức hợp cơ và cơ thắt ngoài. Tạo hình hậu môn bằng chỉ tan chậm.

Trong 4 trường hợp tồn tại ổ nhớp của chúng tôi đều áp dụng phương pháp

tạo hình qua ngã sau của Pena để điều trị. Để tái tạo niệu đạo, chúng tôi sử dụng

ngay chính kênh chung cuộn lại thành ống sau khi đã phẫu tích. Có 3 trường hợp

kinh chung trên 3 cm, âm đạo được tái tạo bằng trực tràng và đại tràng sigma, và

một trường hợp dưới 3cm, khẩu kính âm đạo đủ rộng không cần tái tạo, chỉ phẫu

tích và đính vào da vùng tầng sinh môn.Tạo hình hậu môn trực tràng không thật sự

khó khăn nhiều và không cần kết hợp với ngã bụng vì trực tràng không nằm quá

cao.

Mọi thắc mắc về các dịch vụ nâng ngựcnâng mũivá màng trinhthẩm mỹ vùng kínthẩm mỹ môithẩm mỹ mắtthẩm mỹ khuôn mặtthu hẹp âm đạo…  và được tư vấn cụ thể về các dịch vụ xin quý khách hàng liên hệ tại đây.